Trang chủ      |      Thành viên      |      Hỗ trợ trực tuyến      |      Liên hệ
NHỮNG NGƯỜI THỢ GỐM ONGGI Ở TRIỀU TIÊN
Ngày nay, ở Triều Tiên người ta vẫn sản xuất gốm rộng rãi như thời trước đây. Người thực tập sinh gốm được tham gia một ”chương trình đào tạo sống” về lịch sử phát triển các quy trình sản xuất và kỹ thuật làm gốm.
Dụng cụ, thiết bị cũ được tận dụng tối đa để làm gốm

Ngày nay, ở Triều Tiên người ta vẫn sản xuất gốm rộng rãi như thời trước đây. Người thực tập sinh gốm được tham gia một ”chương trình đào tạo sống” về lịch sử phát triển các quy trình sản xuất và kỹ thuật làm gốm. Các bàn xoay gốm, lò nung, dụng cụ và những thiết bị khác đã qua sử dụng trong nhiều năm trước đều vẫn còn được tận dụng. Máy móc thì quá đắt đỏ vì chứng nhận khi mua hàng và công tác bảo dưỡng thì lại tốn nhân lực. Nguyên vật liệu làm men vẫn còn được chế biến từ đất : hai người thợ khéo léo vận hành cối giã để tán những nguyên vật liệu thô ( đá mẹ ) thành bột. Trong vòng 6 ngày , hai người đàn ông này làm việc cật lực suốt ngày cũng chỉ cung cấp được 60 pounds bột, xấp xỉ 27kg. Không một nhà cung cấp nào chào bán nguyên vật liệu đã qua xử lý phù hợp để có thể sử dụng được ngay.

 

Củi chụm lò phải được vận chuyển, chặt và bửa ra thành thanh với số lượng rất lớn mới có thể dùng đủ cho một kỳ chụm lò. Do đó, trước đây trong triều đại Vi, yếu tố lò nung phải gần với rừng còn quan trọng hơn so với việc gần mỏ kaolin. Ngày nay, rừng càng ngày càng bị chặt phá trầm trọng vì thế phải có giấy phép đặc biệt mới được kinh doanh, buôn bán và nung bằng củi. Thật ra, củi cũng là một loại nhiêu liệu khá mắc nhưng dù sao thì dùng nó vẫn rẻ hơn so với các loại nhiên liệu nhập khẩu khác như dầu và propan. Khí gas tự nhiên ở Triều Tiên không có.



Việc xin được giấy phép sản xuất gốm ở quốc gia này rất phức tạp giống như sự cần thiết của việc phân chia nhân lực cho các công đoạn làm gốm sao cho phù hợp. Chặt củi, trộn và lọc đất, cắt đất, tạo hình, chất và nung sản phẩm đều cần thợ có tay nghề. Một sản phẩm gốm sau khi ra khỏi lò nung phản ánh sự kết hợp công sức của rất nhiều người hợp lại để tạo thành một tác phẩm hoàn thiện.



 

Các sản phẩm gốm Onggi được người dân Triều Tiên ưu chuộng

Ngày nay có 4 dòng sản phẩm gốm chính được sản xuất ở Triều Tiên :



  1. Onggi, đồ gốm đựng dùng trong sinh hoạt hàng ngày của gia đình, được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau nhưng công dụng đầu tiên phải kể đến là được dùng để ngâm rau quả làm dưa, đựng pate đậu và tương đậu nành là những món ăn kiêng chủ yếu của người Triều Tiên.

  2. Những dòng sản phẩm của triều đại Kyoro và Vi được tái sản xuất chủ yếu để xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

  3. Bộ đồ trà cũng chủ yếu xuất khẩu qua xứ sở hoa Anh Đào.

  4. Các sản phẩm gốm sứ được sản xuất tại các khoa gốm sứ của các trường đại học, được nung ở nhiệt độ khác nhau, chủ yếu dùng để trưng bày ngoài trời.

Trong tất cả những chủng loại sản phẩm kể trên thì gốm Onggi luôn được các thợ gốm Tây phương yêu thích nhất. Kỹ thuật và phương pháp để làm gốm Onggi gần như không được biết đến ở miền Tây. Thợ gốm Triều Tiên có thể làm những chậu gốm kích thước vĩ đại với tốc độ nhanh không thể tin nổi so với kỹ thuật và tay nghề của người thợ gốm Tây phương. Phương pháp bắt vòng, phương pháp vỗ và cấu trúc bàn xoay đều vượt quá giới hạn của người thợ gốm phương Tây, đặc biệt là tốc độ và kích cỡ.
Một số chậu gốm Onggi có kích thước rất lớn
Vì xu hướng phát triển hiện nay là sử dụng đồ dùng bằng kim loại và các sản phẩm nhựa nhân tạo cùng sự phát triển của ngành gốm công nghiệp ở Triều Tiên đã góp phần bóp chết ngành sản xuất thủ công cũng như nhu cầu sử dụng chậu gốm thủ công ở nước này. Ngoài ra, sớm muộn gì các nguyên vật liệu mới và công nghệ mới thích hợp hơn để sản xuất gốm Onggi có thể sẽ được phát hiện ra vì làm gốm Onggi theo phương pháp truyền thống có nhược điểm là tuổi thọ kém, nặng và giá thành cao hơn so với sản phẩm chậu được sản xuất đại trà dạng công nghiệp. Tuy nhiên, tính cách bảo thủ trong công việc của người dân Triều Tiên chính là rào cản ngăn những người thợ gốm Onggi tiếp cận những tiến bộ mới trong lĩnh vực này. Và quan trọng hơn, họ tin chắc rằng hương vị của món Kim Chi – một món ăn rất nổi tiếng của Triều Tiên, sẽ được phát huy tối đa khi ngâm trong chậu Onggi so với ngâm trong bất kỳ các đồ đựng khác. Mặt khác, luật tái trồng rừng mới ban hành đã chỉ ra mối nguy hại từ việc tiếp tục nung gốm Onggi bằng củi. Đốt bằng củi thì gây tác hại còn đốt bằng dầu thì mắc và phải nhập khẩu. Thành ra, có vẻ như không có giải pháp khả thi nào cho bài toán sử dụng nhiên liệu sao cho tiết kiệm cao và chi phí thương mại thấp. Vì thế, thật là khó để tiên đoán về tương lai của nghề làm gốm Onggi ở Triều Tiên. Nhưng ít nhất là hiện tại, những người thợ gốm Tây phương vẫn đang quan sát, theo dõi sát sao những kỹ năng đặc biệt của người thợ gốm Onggi.

Đất được phơi trên những ô làm khô

 



Công đoạn chuẩn bị đất



Vào những năm đầu của thập niên 50 thế kỷ XIX, những người thợ gốm Onggi bắt đầu sử dụng kỹ thuật tinh chế đất truyền thống của người Triều Tiên mà họ được thừa hưởng từ thế hệ cha ông truyền lại. Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn ứng dụng nó để sản xuất các sản phẩm gốm trắng chất lượng cao. Chính vì thế, những phương pháp được mô tả bên dưới cũng rất cần thiết cho cả sản xuất gốm Onggi lẫn đồ sứ. Cách đây 20 năm về trước, một vài xưởng gốm Onggi ở đảo Kanghwa đã kế thừa và ứng dụng công nghệ này vào sản xuất rồi sau đó lan rộng dần ra các tỉnh Kyonggi and Nam Ch'ungch'ong. Để làm khô đất người ta thiết kế một ô đất vuông có kích thước khoảng 75’ x 75’ ( tương đương 22.86m x 22.86m ). Tại mỗi góc của ô làm khô này họ đào một hố tròn đường kính khoảng 8 feet xấp xỉ 2.43m. Những hố này người ta gọi là bể lắng. Ngày nay, đôi khi người ta lát xi măng bên dưới bể lắng. Người ta xây những bể hình chữ nhật kích thước nhỏ hơn vào khoảng 2 feet x  4 feet tiếp tuyến với từng bể lắng hình tròn nói trên. Thanh gỗ nhỏ nối những bờ đê của các bể với nhau tạo thành kênh dẫn, dẫn nước từ bể lắng chảy trở lại bể khuấy trộn – nơi cần nước. Trong quá trình nước chảy từ bể này sang bể kia, tinh đất lắng xuống tạo thành một con đê ngăn đôi bể khuấy và bể lắng. Người thợ gốm lột lớp đất sa lắng này bỏ lên ô làm khô. Ngoài ra, một số công nhân có khả năng dùng chân để đạp làm khô đất.



Quy trình tinh chế đất



  1. Sấy: nguyên liệu đất thô được sấy nhằm mục đích giúp cho quá trình tôi  được nhanh hơn khi bỏ vào bể tinh luyện. Ba người đàn ông dùng xẻng hất đất lên thành đống ở nơi có ánh nắng mặt trời. Sau đó, họ dùng bồ cào gỗ hoặc cuốc để trải đống đất thành lớp mỏng. Trong quá trình trải đất, người ta dùng cuốc làm vỡ các phiến đất to và nhặt những cục đá lớn ra khỏi đất. Đất còn nguyên ở dạng phiến dẻo thì rất khó để đập vỡ hoặc tôi luyện. Những cục đất còn to sau khi sấy khô được đập thành những cục xù xì to bằng trái táo trở lại, được bỏ vào rổ hoặc khay rồi đặt lên xe khung và chuyển tới khu vực tinh luyện. Thường một lần tải đất về những bể khuấy như vậy khoảng chừng 200 pound, xấp xỉ 90kg.

 



  1. Trộn và tôi đất: Đất sấy khô được đổ xuống những bể khuấy chứa nước. Sau một thời gian ngâm, đất bắt đầu mềm và hòa tan dần vào nước. Người ta bắt đầu dùng mái chèo bằng gỗ được nối với tay cầm bằng một thanh ngang để khuấy hỗn hợp đất và nước. Đất được bẩy lên, đẩy xuống nhờ vào cạnh bờ của bể khuấy như một điểm tựa. Những phiến đất dẻo không dễ bị đánh tan nên phải nhờ lực khuấy của mái chèo đánh lên, đưa xuống rất nhiều lần mới có thể hòa tan chúng vào nước tạo thành dung dịch hồ lỏng. Vì công việc này đòi hỏi tốn thời gian và lặp đi lặp lại rất đặc trưng nên thường người ta chọn phụ nữ để đảm đương phần việc này. Hơn nữa tiền công phải trả cho họ thấp hơn so với đàn ông. Thật ra, bên phương Tây khái niệm phải dùng nhiều nhân công và cách làm thủ công để thực hiện công đoạn này quả thực là một điều hết sức phi lý vì chỉ cần motor và cánh khuấy sẽ giải quyết xong bài toán này hết sức nhẹ nhàng.

 



  1. Sàng – lọc đất : Đất sau khi được khuấy trộn và tôi thành hồ lỏng, được múc vào xô và đổ từ từ cho hồ dàn đều trên sàng 30 Mesh rồi chảy xuống dưới bể chứa thứ hai – hay còn gọi là bể lắng. Khi hồ chảy qua lớp sàng thì bao nhiêu sạn, cát to cũng như đá sẽ được giữ lại và bỏ đi. Đến một lúc nào đó, khi cần thêm nước cho việc khuấy hồ, người thợ mở cái cổng ở bờ đê nhỏ chắn giữa bể lắng và bể khuấy để lớp nước trong trên bề mặt của bể lắng trảy tràn qua bể khuấy. Cứ thế, quá trình khuấy – lắng – rây được lặp đi lặp lại đảm bảo cát to, sạn, đá được loại bỏ hẳn giúp cho đất được tinh luyện tốt hơn. Khoảng một tuần thì tinh đất sa lắng thành một lớp dày ở bên dưới bể lắng. Khi bể lắng đã đầy tinh đất, người ta dùng xô múc lên, chuyển đến đổ lên ô làm khô thành một lớp dày nhìn từ xa giống như con đường dành cho người đi bộ.

 



  1. Phơi khô hồ cho đất đạt tới trạng thái dẻo: Bên dưới ô làm khô, người ta trải một lớp vải sợi gai hoặc vải cotton nhằm không để hồ tinh chế tiếp xúc với bụi bẩn ở nền đất bên dưới và để thuận tiện tách lớp đất tinh khi nó đã khô tới độ dẻo cần thiết dưới ánh nắng mặt trời và gió. Sau đó, người ta dùng lưỡi hái nhỏ cắt đất thành từng cục nhỏ kích thước khoảng 30cm x 30cm x 15cm, chất lên xe đẩy tay rồi chuyển về xưởng sản xuất.

 



  1. Công đoạn chuẩn bị đất trước tạo hình: Tại đây, chúng được chất thành đống hình khối chữ nhật dài khoảng 1.8m, rộng khoảng 1.2m, cao khoảng 1.2m. Đoạn người công nhân rẩy nước lên đống đất và dùng cái chày vồ dài bằng gỗ đập lên khối đất. Ban đầu, họ nện bằng đầu chày, sau đó đánh bằng thân chày làm cho khối đất kết vào nhau xẹp dần xuống. Quá trình này người thợ gốm Triều Tiên gọi là “saengjilggun”. Tiếp đến, đất được cắt nhỏ thành những lát mỏng dày khoảng 3mm bằng lưỡi hái hình dáng như con dao. Công đoạn xử lý giai đoạn thứ hai này được thực hiện bởi những người thợ phụ. Họ được gọi là “những chàng trai chịu khó” ( hardy lads ) hoặc “nô lệ làm đất” ( clay slaves ). Mục đích của công việc này là đồng nhất hóa đất cứng và đất mềm. Tiếp theo, một thợ khác cuộn và nhồi đất đã cắt mỏng thành từng cục tròn nặng khoảng 18 – 22kg. Ở một số phân xưởng, để kaolin không tiếp xúc trực tiếp với nền đất, khi xử lý đất người ta lót một lớp vải bên dưới nền, sau đó ném những cục đất tròn mới được cuộn lại chồng lên nhau thành một đống hình khối chữ nhật nặng khoảng 2.5 tấn rồi lại dùng đầu chày và thân chày nện lần thứ hai y như lần đầu tiên. Khối đất sau khi được quết lần thứ hai, lại được cắt thành từng cục nhỏ tròn và lại được người thợ phụ nhồi tiếp.  Kế đến, người ta dùng một cái xẻng bằng gỗ có hoa văn chạm khắc trông như một phiến gỗ đơn, xắng khối đất vừa mới được nhồi xong thành từng khoanh nhỏ. Các khoanh đất này lại được tiếp tục được nhồi thành những khối mới, cắt ra và ném chồng lên nhau tạo thành những đống vuông, dẻo nặng chừng 45kg. Khi được xử lý theo cách này, đất sẽ được nhào trộn rất tốt giống như được đùn chân không. Hơn nữa, đất được nhồi kỹ sẽ tăng cường độ bền ướt và có độ dẻo khác lạ thích hợp để làm gốm Onggi. Một vài đống cần sử dụng liền ngay sau đó sẽ được để sang một bên, số còn lại được quấn và ủ bằng vải ẩm hoặc nylon để bảo quản đất không bị khô. Các phân xưởng xử lý đất được bao bọc bằng những bức tường đất dày, mái tranh thì nặng và những ô cửa sổ thì nhỏ với mục đích duy nhất là ủ và duy trì độ ẩm tối đa cho những “ụ đất” đã qua xử lý. Các ụ đất vuông chuẩn bị để làm sẽ được chuyển tới bên cạnh các bàn xoay, và người thợ dùng một sợi dây cắt chúng thành từng lớp hình chữ nhật kích thước khoảng  45cm x  8cm x 8cm nặng chừng 9kg.

 

Thủ thuật đi dây đất "coil"

Thủ thuật se đất – bắt vòng :



Ngay lập tức người thợ trải một trong những tấm đất hình chữ nhật vừa mới cắt xong lên nền đất bằng phẳng nơi mà anh ta chuẩn bị sẵn để bắt đầu công việc và nhanh chóng cuộn nó lại, làm dãn thành dây dài khoảng 90cm. Thanh đất này được người thợ dùng tay se đi se lại nhẹ nhàng tạo thành một dây đất hình trụ xoắn. Kỹ thuật se dây này đảm bảo cho việc chuyển cục đất từ dạng thỏi sang dạng cuộn dễ dàng. Cuộn dây đất tiếp tục được se tới se lui trên nền đất làm cho đường kính của nó thu nhỏ lại từ 3 – 5cm và dài xấp xỉ 1.8m rồi chồng thành đống bên cạnh bàn xoay sẵn sàng cho công đoạn tiếp theo.



 



Tạo đế – nền tảng cho chum, chậu :



Một cục đất tròn nặng chừng 8 pound ( xấp xỉ 3.6kg ) được người thợ dùng tay nắn thành một khối hình trụ tròn đường kính khoảng 11cm dài 15cm. Cuộn đất này được nhấc lên và ném xuống nền đất vài lần thì thành hình một cái đĩa dày. Đĩa đất tiếp tục được đặt lên mâm, sau vài thao tác kéo một bên, đĩa đất được mở miệng và dãn rộng ra, đường kính đạt khoảng 40cm dày khoảng 7 phân. Cứ thế, quá trình nắn – ném – kéo dãn đất thành đĩa được thực hiện liên tục cho đến khi chúng xếp chồng lên nhau thành một đống bánh đất hình đĩa bên cạnh bàn xoay.



 



Dát mỏng đế đĩa :



Bấy giờ người thợ gốm mới ngồi lên bàn xoay, rắc bột kaolin khô rất nhanh lên mâm xoay bằng gỗ. Bột kaolin khô có tác dụng làm giảm độ bám dính của đất vào mâm bàn xoay, giúp họ dễ dàng nhấc bán thành phẩm lên khỏi bề mặt mâm bàn xoay khi kết thúc công đoạn tạo hình mà không cần dùng dây để cắt. Ngay sau đó, người thợ ném cục đế đĩa lên ngay chính tâm của mâm bàn xoay. Trong khi mâm xoay chầm chậm theo chiều ngược kim đồng hồ, rất nhanh bàn tay phải của họ cầm pangmangi – một “miếng nghè” theo cách gọi của người trong nghề, ấn xuống bề mặt của đĩa đất. Thao tác nén này làm cho đĩa đất dẹt xuống, loại bỏ những túi khí nằm sâu bên trong lòng cục đất. Bước khởi đầu này đặc biệt quan trọng, luôn được các bác thợ cả lành nghề nhấn mạnh trong khi truyền đạt nghề cho những người học việc vì chỉ cần thao tác sai thì hậu quả là sản phẩm sẽ bị nứt đáy trong quá trình sấy khi nung sản phẩm.



 



Tạo thân của sản phẩm – bước thứ nhất :


Tiếp đến, người thợ khắc một vòng tròn trên đĩa đất để đánh dấu kích thước cơ sở mong muốn, sau đó xoay tròn mâm gỗ và dùng dao gỗ cắt bỏ phần đất thừa dôi ra khỏi kích thước cơ sở. Thế là đĩa đất đã sẵn sàng cho thao tác nối tường, tạo thành cho sản phẩm. Hiện tại, có 3 phương pháp để tạo thành, nhưng nhìn chung mỗi phương pháp có sự khác biệt không đáng kể so với nhau. Phương pháp đầu tiên và phổ biến nhất là phương pháp “coil” – tạm dịch phương pháp cuộn, được áp dụng rộng rãi ở tỉnh Kyonggi. Phương pháp thứ hai là "spiral coil" ( cuộn xoắn ốc ) được dùng chủ yếu ở tỉnh Kyongsang. Cuối cùng là phương pháp thứ ba “lát tấm” ( slab method ), bắt đầu được các thợ gốm phương Tây sử dụng nhiều hơn, được phổ biến ở tỉnh Cholla. Đối với phương pháp này, đất được trải thành từng tấm ( có hình dáng như dải ruy băng ) dài gấp ba lần đường kính của chậu, rộng khoảng 20cm và dày chừng 1 phân, được đặt lên phần trên của đế để tạo thành cho chậu. Về cấu trúc thì những tấm đất này có cách làm hao hao giống như những miếng đất được làm theo phương pháp “coil” ngoại trừ khi cuộn thành thanh. Sau khi được se và cuộn lại, chúng được vụt nhẹ trong không khí rồi lát thành tấm trên nền đất tạo thành những dải ruy băng.



Bước đầu tiên của công đoạn tạo thân chậu chính là nối “đế chậu” ( the base of the vessel) với phần dưới cùng của thân chậu ( the bottom-most part of the vessel wall ). Phần thân này có thể được làm từ những đĩa đất được chuẩn bị sẵn để làm đế chậu như đã nói phía trên hoặc làm từ những cục đất hình trụ được chế biến đặc biệt dùng riêng cho mục đích này. Để nối “đế chậu” với “tấm thân”, người thợ đặt một cuộn dây đất dài gấp 3 lần đường kính chậu lên mâm bàn xoay. Trong khi mâm xoay chầm chậm thì cuộn đất bị đập dẹp ra. Dải đất này sau đó được bắt dính liền với gờ miệng của đế chậu. Sau khi hoàn thành xong việc này, người thợ đặt những tấm ruy băng đất – thành chậu đã được chuẩn bị như đã đề cập phía trên lên trên đế chậu và chạy một dây đất mỏng dọc theo đường nối bên trong để nối phần đế và phần thân vừa ráp. Thủ thuật này có tác dụng giúp cho liên kết của mối nối được bền hơn. Để thực hiện thao tác này, đòi hỏi người thợ phải có kỹ năng rất đặc biệt đáng kinh ngạc : các ngón bàn tay phải gấp lại, ấn mạnh vào bên trong mối nối cho dây đất ăn sâu vào bên trong mối nối, đồng thời bàn tay trái ém mạnh vào bên ngoài mối nối để trợ lực cho tay phải trong khi đó dùng gót của bàn chân trái để điều khiển mâm bàn xoay quay chầm chậm, một kỹ năng hầu như không được biết đến ở Tây phương.



Tiếp đó, người thợ xoay bắt một dây đất khác và đính nó dọc theo bên ngoài mối nối. Kỹ thuật nối này đòi hỏi sự kết hợp giữa lực ép đi lên từ bên dưới mối nối của lòng bàn tay trái với hàng loạt lực ép từ động tác ém nữa vòng của bàn tay phải lên phần đất dây vừa mới đính vào theo hướng đi xuống, đối nghịch với hướng của lực bàn tay trái. Để có thể làm được tất cả việc này với tốc độ cao, người thợ phải có kỹ năng bậc thầy. Cùng lúc đó, người thợ phải sử dụng bàn chân trái khéo léo quay bàn xoay đạt tốc độ phù hợp với thao tác của đôi tay mình. Quá trình chạy dây đất này được lặp đi lặp lại từ 3 đến 4 lần. Ở tỉnh Kyongsang, dây đất dài gấp 6 lần đường kính của thân chậu, nằm vắt ngang trên vai và kéo dài xuống lưng của người thợ.

Tay trong tay ngoài ém mối nối để làm bền liên kết

Kỹ thuật vỗ :



Ở công đoạn này, trong khi dùng bàn chân trái quay bàn xoay ngược chiều kim đồng hồ, người ta dùng một thanh đe bằng gỗ (togae) và một mái chèo gỗ ngắn, một cái áp vào trong một cái ngoài vỗ từ ngoài vào thành chậu. Thao tác này giúp cho các dây đất đồng nhất hoàn toàn với thân chậu và làm mỏng thành chậu hơn. Ngoài ra, đất sẽ được nén chặt hơn làm tăng cường cường độ mộc. Sau khi người thợ xoay kết thúc việc vỗ, 2 người thợ cạo tiếp tục xử lý bề mặt bên trong và bên ngoài thân chậu. Người thợ su bên trong thì dùng miếng cạo bằng vỏ sò biển (cũng có khi miếng cạo bằng kim loại cứng) còn người thợ su bên ngoài thì sử dụng miếng cạo bằng gỗ to hơn một chút. Tay phải giữ chậu, tay trái họ cạo làm nhẵn bề mặt bên ngoài và bên trong thân chậu. Xong việc, 2 người thợ cạo này được giữ lại, đứng đối diện nhau, dùng  chân trái của mình quay thật nhanh bàn xoay một cách liên tục cho đến khi kết thúc công đoạn su, hoàn thiện bán thành phẩm ( mộc ). Để có thể duy trì độ dẻo dai của cơ bắp chân trái trong một khoảng thời gian tương đối dài, người thợ cạo phải thực tập định kỳ và đều đặn. Nếu không, cơ bắp chân của họ chắc chắn sẽ bị đau nhức do không hoạt động thường xuyên.



Với sự hỗ trợ của 2 người thợ cạo, một loạt công đoạn nối thân, chạy và ém dây đất, vỗ thành chậu, cạo trong ngoài… được thực hiện cho đến khi miệng của chậu được hình thành. Lúc đó, người thợ xoay mới dùng con dao gỗ cắt gọt gờ miệng, rồi hai tay nắm hai đầu một tấm vải ướt vắt ngang lên miệng chậu sao cho phần chính giữa miếng vải nằm ngay gờ miệng chậu, phần còn lại áp sát vào bên ngoài và bên trong thành chậu. Khi bàn xoay quay, hai tay của người thợ giữ chặt lấy tấm vải làm cho vải ẩm miết vào hai bên gờ miệng làm cho gờ miệng của chậu láng bóng như môi được thoa son.



 



Công đoạn cuối cùng :



Kẹp lấy miếng vải mỏng và ngắn bằng các ngón của bàn tay phải, người thợ bắt đầu miết vào thân chậu, tạo độ láng mịn cho bề mặt thân chậu còn tay trái thì áp vào trong lòng thành chậu để trợ lực trong khi bánh mâm xoay liên tục. Bây giờ cái chậu đã hoàn thiện và sẵn sàng để được nhấc khỏi mâm bàn xoay. Bàn xoay vẫn quay, người thợ dùng một con dao gỗ gọi là dao cắt đáy (bottom cutter) tỉa đất thừa ở đáy chậu. Đối với những chậu kích thước lớn, người thợ xoay sẽ nhờ một người thợ phụ “hardy lads” đến hỗ trợ nhấc cái chậu xuống khỏi mâm. Họ quấn vải xung quanh thân chậu, hai người đứng đối diện nhau, dùng lực cánh tay cùng nhấc một lượt cái chậu lên khỏi bề mặt mâm bàn xoay và chuyển tới một khu vực dành riêng để tập kết mộc gọi là “iongch'im”. Khu này được che bằng mái tranh nhưng xung quanh thì trống hoàn toàn, không có tường bao quanh. Họ tháo miếng vải ra và để cho mộc khô tự nhiên vài ngày tùy thuộc nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Một điều lưu ý rằng thao tác cắt gọt phần đáy chậu cũng hết sức quan trọng vì nó giúp cho thành chậu mỏng đều từ miệng tới tận cùng đáy chậu.



 



( Theo Ron du Bois, Ceramics Today )

Các tin khác
GỐM BÁT TRÀNG - NƠI CON NGƯỜI TẠO RA NÉT ĐẸP CHO CUỘC SỐNG
SỰ THIẾU HỤT LAO ĐỘNG KẾ THỪA CỦA NGHỀ GỐM BÌNH DƯƠNG
ĐỔI MỚI - CẢI TIẾN ĐỂ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN
PETER BEARD - NGHỆ NHÂN GỐM ANH QUỐC
ÔNG KHALED BEN SLIMANE - NGHỆ NHÂN GÓM TUNISIA
KATHY BUTTERLY - NỮ NGHỆ NHÂN GỐM NGƯỜI MỸ
BÀ BEATE KUHN - NGHỆ NHÂN GỐM NGHỆ THUẬT TIÊN PHONG CỦA ĐỨC
TRUNG TÂM PHỤC HỒI GỐM KHMER QUỐC GIA
LÀNG GỐM ISTALIF - THÀNH PHỐ KABUL - AFGHANISTAN
LÀNG GỐM BINDAPUR-ẤN ĐỘ
trang suc cuoi Một bộ trang sức cưới bằng sứ cao cấp rất sang trọng và quý phái
binh dep khuyet mat trang

Chiếc bình dẹp màu trắng, có design khuyết hình mặt trăng rất duyên dáng

chau do den soc noi

Chậu sọc nổi với hai màu đỏ và đen được phối đơn giản nhưng nổi bật

chau vuong xanh chay Chậu vuông màu xanh chảy, một trong những màu men đặc trưng của gốm sân vườn Bình Dương
collection chau hai mau

Một collection các loại chậu với hai màu men vàng trổ và trắng sôi theo phong cách Châu Âu

Đang truy cập : 15
Lượt truy cập : 542618
HIỆP HỘI GỐM SỨ TỈNH BÌNH DƯƠNG (BINH DUONG CERAMICS ASSOCIATION)
Địa chỉ: 7/31B Đại lộ Bình Dương, P. Bình Hòa,TX. Thuận An, T. Bình Dương.
Điện thoại: (0650) 3716.625 - Fax: (0650) 3716.625 - Email: info@bicera.vn
Copyright © 2019 BINH DUONG CERAMICS ASSOCIATION. All rights reserved. Designed & developed by EMSVN